VÀI HÌNH ẢNH KHÁC (6)
Thứ Hai, 18 tháng 10, 2010
Thứ Sáu, 15 tháng 10, 2010
VÀI HÌNH ẢNH KHÁC (5)
CÁC LÒ VÕ
Ở Hội An có rất nhiều lò võ:
Lò ông Năm Khê, Lò ông Năm Hòa, Lò ông Đội Chưởng...
Trước đó còn có:
Lò ông Tú Chén, Lò ông Năm Sửu (chỉ dạy có 3 người rồi thôi)
- Những ông thầy không mở lò nhưng có dạy học trò:
Ông Xú, ông hai Xì Dỏn, ông Lê Tình hấp mũ, ông Cảnh thầy thuốc bắc ở Ngọc Thành
- Những người có "ngón" chỉ truyền lại (tất cả hay một phần) cho từng đứa, con hoặc cháu:
Ông Lý Khương, ông già tôi (Học trò của ông Năm Sữu, nhất quyết không truyền lại cho con của thầy mình vì một lời thề trước thầy và tổ: Không dạy cho đứa nào tính khí chưa... "chuẩn").
- Những người có "ngón" nhưng không truyền lại cho ai:
Trường hợp duy nhất mà tôi biết đó là ba của Thái Tú Phong. Những tối qua chùa Phước Kiến tập võ một mình, có lần ba của Phong có múa và giảng giải cho tôi 3 bài quyền đoản côn (Hội An lúc đó chưa có đứa nào biết) và bài quyền nổi tiếng: HOA MAI TRƯỜNG CÔN. (Trường côn có chiều dài quy định cho từng người học, chiều cao tính từ chân lên đến mút ngón tay đưa thẳng lên trời cộng thêm một đoạn từ đỉnh đầu lên đến mút ngón tay. Đoản côn có hai loại, một loại cao ngang đỉnh đầu người và một loại ngắn hơn loại kia một đoạn bằng từ đỉnh đầu lên đến mút ngón tay đưa lên trời).
Nghe đâu không nhớ hết, ba của Phong hình như là học trò của ông Tú Chén, người có kỳ công khinh lực phi thường.
- Người không phải là dân Hội An nhưng có dạy học trò.
Đó là một người lính thổi kèn đã lớn tuổi, người Bắc, ở đồn Công binh. Phạm Viết Ky học võ của người này.
- Ngoài ra còn có những môn võ khác như Thái Cực Đạo, Nhu Đạo, Vovinam (Nguyễn Minh theo học).
BỐN MÓN ĂN NỔI TIẾNG MỘT THỜI
Cao lầu
Cao lầu không phải món ăn của người Tàu, vì người Tàu không bao giờ dùng thức ăn sống (như rau sống). Cao lầu cũng không phải là món đặc thù của người Việt, vì người Việt đâu chế tạo ra nước chấm xì dầu! (cao lầu chỉ ăn với... Tàu vị yểu). Có lẽ đây là món "tân cổ giao duyên".
Tên của món ăn này có nhiều lý giải khác nhau nhưng có một lý giải khá thuyết phục.
Đầu tiên, "bánh" cao lầu phải dùng loại bột nào, nước giếng nào, loại tro nào thì ở Hội An ai cũng biết. Nhưng ngày xưa người ta hấp bánh cao lầu không như bây giờ mà dùng một loại lò hấp 3 tầng, lần lượt đưa bánh lên tầng cao dần trước khi cho ra lò. Người Hoa ở Hội An gọi lò này là 高 爐 (cao lô) và đọc như "CAO LẦU".
Cao lầu bây giờ dùng tép mở rán cho tiện, người xưa cầu kỳ hơn dùng xác của bả đậu phụng (không hấp trước) để ép dầu, chẻ nhỏ rồi chiên lên.
Cao lầu thời đó cũng ăn kèm với cải Tần Ô.
Ngày đó Cao-Lầu-Ông-Cảnh nổi tiếng nhất Hôi An.
Cháo chả bà Cừ
Bà Cừ bán cháo chả ở chợ, nhà của bà sau này là của ông Thơ nước mắm gần chùa Ông.
Bún bà Chỉ
Bà bán bún ngay tại nhà. Nhà bà đối diện nhà máy đèn.
Bánh xèo TAM-TAM
Của ông Hồ Cường, từng là vận động viên marathon nổi tiếng Việt Nam. Quán bánh xèo được dời nhiều chỗ. Điểm đầu tiên là trước câu lạc bộ "Quế Sơn".
Ngoài ra cũng nên kể thêm:
Bánh bao ông Hoa Nam, đường Lê Lợi; bà Tư Danh bên chùa Bà.
Bún bò bà Cứ
Hoành thánh của Ông Ba Huế... ... ...
閎 (VÂN: mây - âm Quảng Đông đọc là "hoành")
吞 (THÔN: nuốt trộng - âm Quảng Đông đọc là "thánh")
Bánh (bột trắng) giống như mây phủ (nuốt) mặt trăng là nhân: BẠCH VÂN THỐN NGUYỆT
Còn nữa,
PHỞ ÔNG LIẾN
Nhà ông ở kiệt SICA, ông mang họ LƯU.
Ông có hai bà vợ cùng sống chung.
Ông có tật ở lưỡi.
Tháng chạp năm ngoái "cả Hội An nghỉ ăn phở 3 ngày" để tiễn ông... về nơi gió cát.

Phở LIẾN Lê Lợi
Hiện nay, nối nghiệp ông có con trai, con gái, con dâu, con rễ.
Phở ông Liến "phủ sóng" khắp Hội An.

Với chúng tôi, PHỞ ÔNG LIẾN muôn đời là phở... lưu... luyến.
TIỂU THỦ CÔNG
Thứ Năm, 14 tháng 10, 2010
ÔNG... TỨ CÂU
Nơi này cách đây hơn 100 năm một người đã làm rạng danh cho làng mình một cách khó tin.
Ngày ông tôi ra đi, không danh, không lợi, không chữ nghĩa.
Ngày về, ông tôi có bổng lộc của vua, có danh phận với làng nước và một bụng... đầy chữ nghĩa.
Cái vốn liếng để ông tôi tiến thân là sự ngay thẳng không gì lay chuyển.
Từ tốt trơn ông tôi được thăng lần đầu hàm Tòng Cữu Phẩm. Ông kể - Ta bắt đầu học chữ từ đây.
Sự ngay thẳng của ông dần đến tai vua. Được dưới thần phục, trên yêu quý, đường hoạn lộ hanh thông. Năm tuổi ngoại ngũ tuần, ông cáo lão về quê. Lúc đó ông đã là Tứ Phẩm triều đình.
Đây là hàm rất lớn, tính theo đàng binh nghiệp, cấp ông tương đương với tư lệnh quân đoàn-quân khu. Thời đó chỉ vợ của các quan từ tứ phẩm trở lên mới được gọi là Mệnh phụ phu nhân.

Nhà thờ tộc Huỳnh ở Tứ Câu
Sau khi về hưu gặp lúc làng chọn bầu lý trưởng, bô lão trong làng xin ý kiến ông. Ông có nói:
Họ Huỳnh nhà tôi cũng gọi là có chút đỉnh chung. Tộc Võ làng này phúc dày nên lộc không kể xiết (ông Võ Ngọc Chỉnh lúc đó là chánh tổng ở phủ Điện Bàn). Nên chọn họ Nguyễn vì chịu khó chăm con ăn học nên người (Đời thứ hai làm lý trưởng là ông Nguyễn Thùy tục gọi Cữu Thùy).
Người đã đạt đến hàm Tứ Phẩm làm rạng danh cho làng, chính ông tên: Huỳnh Câu Dư
(黄 駒 璵)
Sau đó làng đệ trình lên vua xin lấy bậc phẩm hàm và chữ đệm tên ông để đặt tên làng:
LÀNG TỨ CÂU
Thứ Sáu, 8 tháng 10, 2010
NHÀ THỜ ĐẠO HỘI AN
Lịch sử nói chung và Hội An nói riêng cứ lặng lẽ chồng lên hàng hàng lớp lớp tồn nghi cho hậu thế và cho cả mai sau.
Có thắc mắc tất có tìm tòi mới thấy rằng những bậc tiền nhân khi đến đất này khai khẩn hay khuếch trương còn lưu lại bao điều cao quý và đôn hậu.
Từ bao đời, Hội An đã thu hút người người chọn nơi này làm ăn sinh sống. Và không ngoại lệ, những Nhà Truyền Giáo cũng đã đến đây.
Kitô giáo là từ viết tắt của tên Người sáng lập ra tôn giáo này. Về sau được tách thành ba “nhánh“ chính:
Công giáo (Giatô giáo, Thiên Chúa giáo, Catholicos)
Chính Thống giáo (Orthodox) tách ra từ năm 1054
Tin Lành giáo (Évangelism) tách từ thế kỷ XVI
Ở Việt Nam từ thế kỷ XVI - XVIII chỉ có Công giáo truyền bá, nên ở Hội An, Kitô giáo được người dân hiểu là Công giáo, Giatô giáo hay Thiên Chúa giáo.
Nhà thờ Thiên Chúa Giáo Hội An
Căn cứ theo tiểu sử sơ lược của linh mục FRANCESCO BUZOMI và linh mục PINA thì nhà thờ đạo Công giáo Hội An được xây dựng vào năm 1616:
“Ngài FRANCESCO BUZOMI là giáo sĩ người Napoli (Ý) sinh năm 1576, qua đời năm 1639.
Năm 1608 cha được phái tới Macao và khi đến cửa Hàn, cha vừa đúng 39 tuổi (1615). Tại đây cha được cấp phép cất một nhà nguyện khiêm tốn. Mùa Phục sinh đầu tiên có một số tín hữu Nhật kiều, cha rửa tội cho 10 người địa phương, những bông hoa đầu mùa của Giáo hội Đàng Trong.
Sau một năm số tín hữu tăng lên 300.
Được phép ông hoàng Kỳ (con cả chúa Sãi), cha dựng thêm ngôi nhà thờ mới ở KẺ CHIÊM, Quảng nam dinh, và một ngôi nhà thờ khác ở thủ phủ Quảng Nam. Sau đó vào QUY NHƠN, cha lập cơ sở NƯỚC MẶN.“
Tại nhà nguyện Thanh chiêm này linh mục Alexandre de Rhodes (A-Lịch-Sơn Đắc-Lộ) khởi thảo tự điển An Nam-Bồ Đào Nha-La tinh (thường gọi là Tự điển Việt-Bồ-La). Cuốn này được in tại Roma năm 1651.“Sinh năm 1585, người Bồ, vào dòng Tên, được gửi vào Đàng Trong năm 1617. Ngài là vị linh mục đầu tiên nói thạo tiếng Việt. Lúc đầu cha Pina ngụ tại Hội An, sang năm 1619 dời vào NƯỚC MẶN.
Trong thư bằng Bồ ngữ viết tại tỉnh Chàm (Quảng Nam) ngày 5-7-1625 gửi cha Bề trên cả Dòng Tên Vitelleschi ở Rooma, cha Gabriel de Mattos có viết:” Hiện nay chúng tôi có ba cơ sở mà hai trong số này (Hội An và Nước Mặn) đã được hoàn thành theo Giáo luật; còn cơ sở mà chúng tôi đang tạm trú lúc này có ba linh mục cư ngụ. Linh mục Francesco di Pina biết tiếng việt khá, làm bề trên và giáo sư dạy tiếng Việt. Các linh mục Đắc Lộ cùng Antonio de Fortoo là thuộc viên và học viên”. (Trích tài liệu tại nhà thờ Thanh Chiêm)
Như vậy, sau khi dừng chân ở Đà Nẵng lập ngôi nhà nguyện đơn sơ (nay không còn dấu tích) thì thánh đường Công giáo đầu tiên của Đàng Trong được hình thành ở Thanh Triêm (sau này gọi là Phú Chiêm) rồi đến giáo đường Hội An, sau đó đến nhà thờ Nước Mặn (Quy Nhơn).
Nội thất giáo đường Hội An Giáo sĩ Alexandre de Rhodes từng đến và đi khỏi Hội An ít nhất 5 lần. Lần đầu tiên vào năm 1624 và lần cuối cùng, ngày 17/6/1645, bị dẫn về Hội An giam giữ 22 ngày để chờ tàu. Lệnh trục xuất vĩnh viễn khỏi Đàng Trong ký ngày 9/6/1645. (theo Công giáo và dân tộc số 798)
Trích thêm về " ông tổ chữ quốc ngữ", Tự điển Việt-Bồ-La và "Phép giảng tám ngày", Giáo sĩ A.de.Rhodes viết:
"Tuy nhiên trong công cuộc này ngoài những điều mà tôi đã học được nhờ chính người bản xứ trong suốt gần 12 năm, thời gian mà tôi lưu tại hai xứ Cô-sinh (Đàng Trong) và Đông kinh (Đàng Ngoài), thì ngay từ đầu tôi đã học với Cha Francisco de Pina, người Bồ, thuộc Hội Dòng Giê-su rất nhỏ bé của chúng tôi, là thầy dạy tiếng, người thứ nhất trong chúng tôi rất am tường tiếng này, và cũng là người thứ nhất bắt đầu giảng thuyết bằng phương ngữ đó mà không cần thông ngôn. Tôi cũng sử dụng những công trình của nhiều Cha khác cùng một Hội Dòng, nhất là của Cha Gaspar de Amaral và Cha Antonio Barbosa, cả hai ôngđều đã biên soạn mỗi ông một cuốn từ điển: ông trước bắt đầu bằng tiếng An Nam (tự điển Việt-Bồ), ông sau bằng tiếng Bồ-đào (tự điển Bồ-Việt), nhưng cả hai ông đều chết sớm. Sử dụng công khó của hai ông, tôi còn thêm tiếng La-tinh theo lệnh các Hồng y rất đáng tôn kính..."
(Bản dịch Từ điển Việt-Bồ-La của Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính)
"Ước gì các Ngài trở nên những người truyền bá nhiều phương ngữ để không những các nước lân cận và quen biết từ xưa được nghe những sự kỳ diệu của THIÊN CHÚA mà cả mọi miền dưới bầu trời và những vương quốc rất xa xôi ở cực đông từ nhiều thế kỷ qua chưa được nghe, thì bây giờ những nước ấy cũng phải được nghe và rao truyền danh CHÚA huyền diệu biết bao trên khắp trái đất (...) Mà lại để Lời THIÊN CHÚA thâm nhập dễ dàng hơn tới tận cùng hoàn cầu, nơi người Đông-kinh và Cô-sinh, tức là tất cả mọi người An Nam đang chiếm cư, thì bây giờ lòng đại lượng bao la của quý vị cũng truyền lệnh thực hiện quyển từ điển của dân tộc An Nam, một quyển từ điển giúp ích cho những người làm công tác Tông đồ được chỉ định cho vườn nho này của CHÚA, hầu họ hiểu biết phương ngữ xa lạ của người An Nam, tức là để những mầu nhiệm THIÊN CHÚA được giải bày cho người An Nam, đồng thời cũng để người An Nam vừa làm quen với chính đức tin Roma và Tông đồ, vừa làm quen với phương ngữ Roma và La-tinh. Ai mà không thấy việc đó trong tương lai có lợi là chừng nào cho công cuộc truyền bá đức tin của Chúa Ki-tô được rộng rãi và chắc chắn hơn" (Trích như trên)
Vậy "Giáo sĩ Đắc Lộ không những không phải là ông tổ duy nhất của chữ quốc ngữ mà cũng không phải là một trong những ông tổ của chữ quốc ngữ"
(Linh mục Thanh Lãng)
Còn mục đích của A. de Rhodes đã được chính Giáo sĩ xác định: Ông làm sách bằng chữ quốc ngữ là để... phụng sự cho việc truyền bá đức tin Ki-tô giáo.
Trở lại việc các Giáo sĩ truyền bá đạo Ki-tô ở Hội An.
Trích thêm về " ông tổ chữ quốc ngữ", Tự điển Việt-Bồ-La và "Phép giảng tám ngày", Giáo sĩ A.de.Rhodes viết:
"Tuy nhiên trong công cuộc này ngoài những điều mà tôi đã học được nhờ chính người bản xứ trong suốt gần 12 năm, thời gian mà tôi lưu tại hai xứ Cô-sinh (Đàng Trong) và Đông kinh (Đàng Ngoài), thì ngay từ đầu tôi đã học với Cha Francisco de Pina, người Bồ, thuộc Hội Dòng Giê-su rất nhỏ bé của chúng tôi, là thầy dạy tiếng, người thứ nhất trong chúng tôi rất am tường tiếng này, và cũng là người thứ nhất bắt đầu giảng thuyết bằng phương ngữ đó mà không cần thông ngôn. Tôi cũng sử dụng những công trình của nhiều Cha khác cùng một Hội Dòng, nhất là của Cha Gaspar de Amaral và Cha Antonio Barbosa, cả hai ôngđều đã biên soạn mỗi ông một cuốn từ điển: ông trước bắt đầu bằng tiếng An Nam (tự điển Việt-Bồ), ông sau bằng tiếng Bồ-đào (tự điển Bồ-Việt), nhưng cả hai ông đều chết sớm. Sử dụng công khó của hai ông, tôi còn thêm tiếng La-tinh theo lệnh các Hồng y rất đáng tôn kính..."
(Bản dịch Từ điển Việt-Bồ-La của Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính)
"Ước gì các Ngài trở nên những người truyền bá nhiều phương ngữ để không những các nước lân cận và quen biết từ xưa được nghe những sự kỳ diệu của THIÊN CHÚA mà cả mọi miền dưới bầu trời và những vương quốc rất xa xôi ở cực đông từ nhiều thế kỷ qua chưa được nghe, thì bây giờ những nước ấy cũng phải được nghe và rao truyền danh CHÚA huyền diệu biết bao trên khắp trái đất (...) Mà lại để Lời THIÊN CHÚA thâm nhập dễ dàng hơn tới tận cùng hoàn cầu, nơi người Đông-kinh và Cô-sinh, tức là tất cả mọi người An Nam đang chiếm cư, thì bây giờ lòng đại lượng bao la của quý vị cũng truyền lệnh thực hiện quyển từ điển của dân tộc An Nam, một quyển từ điển giúp ích cho những người làm công tác Tông đồ được chỉ định cho vườn nho này của CHÚA, hầu họ hiểu biết phương ngữ xa lạ của người An Nam, tức là để những mầu nhiệm THIÊN CHÚA được giải bày cho người An Nam, đồng thời cũng để người An Nam vừa làm quen với chính đức tin Roma và Tông đồ, vừa làm quen với phương ngữ Roma và La-tinh. Ai mà không thấy việc đó trong tương lai có lợi là chừng nào cho công cuộc truyền bá đức tin của Chúa Ki-tô được rộng rãi và chắc chắn hơn" (Trích như trên)
Vậy "Giáo sĩ Đắc Lộ không những không phải là ông tổ duy nhất của chữ quốc ngữ mà cũng không phải là một trong những ông tổ của chữ quốc ngữ"
(Linh mục Thanh Lãng)
Còn mục đích của A. de Rhodes đã được chính Giáo sĩ xác định: Ông làm sách bằng chữ quốc ngữ là để... phụng sự cho việc truyền bá đức tin Ki-tô giáo.
Trở lại việc các Giáo sĩ truyền bá đạo Ki-tô ở Hội An.
Ngày 18/1/1615 Giáo sĩ Ý Francisco Buzomi cùng với Giáo sĩ Bồ Diego Carvalho và hai Giáo sĩ Nhật là Joseph và Paulo đến Hội An ở lại một thời gian khá lâu. Từ năm 1615 đến 1625 có hơn 20 Giáo sĩ Dòng Tên (Jésuite) đến Hội An. Ông F.Buzomi là người khai sáng Giáo đoàn Thiên Chúa giáo xứ Nam, lãnh đạo các hoạt động truyền giáo ở Đàng Trong và là Chánh xứ nhà thờ Hội An trong 25 năm liền. Cũng phải kể đến Giáo sĩ Bồ Francisco de Pina được cử đến Thanh Chiêm và Hội An từ 1617 đến 1625. Giáo sĩ Ý Christoforo Borri từ 1618 đến 1621.Giáo sĩ Alexandre de Rhodes (5 lần) từ 1624 đến 1645. Ngoài ra còn có các linh mục Nhật như Joseph từ 1615 đến 1639, Linh mục Pietro Marques từ 1618 đến 1627 và từ 1655 đến 1663, Linh mục Romao Nishi từ 1622 đến 1640, Linh mục Mathias Machida trong năm 1625, Linh mục Miguel Machi từ 1626 đến 1628 và Linh mục Paulo tên thật là Saitoh Kozaemon từ năm 1665.
Cũng nên kể thêm, theo ông Phan Du trong "Quảng Nam qua các thời đại" do Cổ học Tùng thư xuất bản, Sài Gòn, 1974,
Vào giữa thế kỷ XVIII, ở Hội An có hai giáo đường Thiên Chúa giáo, một của các cha Dòng Tên người Bồ Đào Nha, một của các cha Dòng Franciscains người Tây Ban Nha.
Tại thôn 2 Cẩm Nam Hội An trước năm 1969 còn đó một Giáo đường hoang phế bên cạnh một gốc cổ thụ hùng vĩ, xung quanh là một xóm Đạo (Người Cẩm Nam bây giờ còn nhớ địa danh "Xóm Đạo" này). Phía sau liền kề khu vực nhà nguyện là bến đò dọc đi ngược về Cẩm Kim.
Khoảng năm 1972 đến tìm lại thì ngôi giáo đường này đã bị nước sông xâm thực phá hủy hoàn toàn. Sau này người ta làm lại một chiếc cầu chữ T tại nơi này làm đường vận chuyển hàng cho các tàu đi biển.
Cách con tàu về phía trái khoảng 50 mét- phía ngoài sông khoảng 300 mét, ngày xưa một ngôi giáo đường đã được xây dựng tại đây từ lúc nào không biết. ĐI PHÚ CHIÊM THĂM NHÀ THỜ PHƯỚC KIỀU
Từ bến xe cũ Hội An đi thẳng về Lai Nghi hướng ra quốc lộ số 1

Hàng quán chợ Lai Nghi ngày càng ít lại, cư dân ở đây bỏ đi nơi khác làm ăn khá nhiều, nhất là thanh niên nam nữ, xuôi nam tìm cơ hội mới.
Qua khỏi Lai Nghi là... "Cây số 6".
Đoạn đường một kilomet này là "Đại lộ kinh hoàng" cho những ai từ quá 5 giờ chiều phải qua đây. Xa xa đâu đó từ trong bụi tre hai bên ruộng lúa tiếng "tất cù" bắn chim, bắn sẻ...vọng ra.
Dĩ nhiên đó là chuyện của những ngày chiến tranh chưa chấm dứt.
Rồi thêm vài bước nữa thôi, chư huynh hãy quay lưng nhìn lại bên mép đường:
Rồi lại nhìn phía trước: Xôn xao chợ cá Cẩm Hà.
Từ khi chính quyền di dời một phần dân cư làng gốm Thanh Hà lên những vùng cao hơn (khu Thủy Tinh) để tránh lủ lụt đe dọa hằng năm, chợ cá Cẩm Hà trở nên phồn thịnh. Đây là nơi trung chuyển rau, trái - nhất là cá bán sỉ - ra Đà Nẵng.
Đi thêm đoạn nữa trước khi đến khúc cua vào thị trấn Vĩnh Điện là cống Ông Đá.
Qua cống Ông đá, bên trái là con đường nhỏ đi Phú Chiêm.
Đi loanh quanh khoảng 5 cây số lúc đường nhựa lúc đường bê tông xi măng đến cuối con đường đất nện trước khi đâm ra quốc lộ là... chợ Tổng.

Địa điểm phía bên trái "bande-role" màu xanh dương đậm một thời là chợ Tổng của phủ Điện Bàn. Đây cũng là nơi cùng với chợ Bà, chợ Được làm nơi lánh nạn cho dân Hội An khi tản cư trong thời kỳ chiến tranh Pháp thuộc.
Cách chợ khoảng 800 mét về hướng bắc nằm trong hương lộ phía đông là nhà thờ Công Giáo xưa nhất Đàng Trong.
Những năm 1968 đến 1975, nhà thờ không hoạt động. Tất cả bàn ghế chiên trống đem gửi cho nhà thờ Vĩnh Điện. Hiện tại ,nhà nguyện cũng không có Cha xứ. Mỗi tuần 3 lần các vị linh mục ở Hội An lên đây làm lễ.
Thứ Hai, 4 tháng 10, 2010
CHÙA CẦU biểu tượng thiên cổ của HỘI AN
Thủy khê dưới chân cầu là khe Ồ Ồ, xuất phát từ BÀU ỐC THƯỢNG chảy vòng vèo trước chùa Long Tuyền qua địa phận chùa Phật Học trước khi đổ vào sông Thu Bồn
NHẬT BỔN KIỀU là sự khẳng định và phân biệt sản phẩm của người Nhật.
Thời ấy nhờ vào chính sách cởi mở của Chúa Nguyễn ở miền Nam ưu đãi những di thần nhà Minh và những người dân Trung Quốc tỵ nạn, vì vậy họ rất hâm mộ và quyết tâm định cư. Họ mở mang dạy cho dân địa phương canh tân kỹ nghệ, cách thức làm ăn, buôn bán nghề nghiệp v.v... Có một số kiều dân Nhựt Bổn cũng ở lại Việt Nam phần đông là thương khách, cũng như các thương khách Trung Hoa cứ 6 tháng lại về. Khi bán hàng cũng như mua hàng họ phải chờ có gió mùa mới trở về nước, thường là khi hết hội chợ. Vì nguyên nhân đó mà người Trung Hoa cũng như Nhựt Bổn cư trú tại Hội An được chia làm 2 khu vực. Từ chùa Cầu trở lên là khu phố Nhựt, từ Chùa Cầu trở xuống là khu phố của người Hoa. Phố Nhựt chỉ có nhà ở còn phố khách người Hoa chiếm lĩnh trung tâm thành phố. Lúc đó chưa có đường Nguyễn Thái Học (mở năm 1840) và đường Bạch Đằng (mở năm 1878).
Từ Chùa Cầu trở xuống là khu phố của người Hoa
Người Pháp đặt tên cho đường này là: Rue Du Pont Japonais
Bia đá nằm khuất sau cây đa trên đường Phan Châu Trinh cách nhà thờ Tin Lành 300 mét.
BẮC ĐẾ SẮC MỆNH LẬP HỘI AN CỰC LẠC MÔ ÁP YỂM THỦY ĐẠO
và các ký hiệu kỳ quặc như bùa
Văn bia Khải Định năm 1917:
Xã ta khắc theo năm Duy Tân, Ất Mão (1915), tháng sáu
Quý tòa chuẩn xuất tiền yêu cầu tu bổ cầu xưa Lai Viễn. Nay thừa theo ghi lại.
Quan lớn chánh công sứ
Quan lớn sở công chính
RESIDENT - LESTERLIN - GALTIER - CONDUCIEURS - PAPIN - LEPRINCE - LAREEP
Thông sự sở công chính: Trần Ngọc Thôi - Trần Thế Diễn
Thực hiện chung các công việc hoàn thành vào tháng sáu năm Đinh Tỵ (1917). Bổn xã nhớ ân khắc ghi nhằm để lại lâu dài.
Khải Định năm thứ hai (1917), tháng bảy, ngày tốt. Minh Hương xã, bổn xã đồng kính khắc.
Tôi là lính "Nghĩa quân lục chiến", 3 tháng quân trường, 9 năm chiến đấu. Không bao giờ được lên lon (vì có lon đâu mà lên). Gọi tôi là Du kích quân cũng gần đúng. Tôi là gạt đờ co (Garde du corps) cho ông thiếu tá Sáng, quận trưởng quận Hiếu Nhơn. Từng tháp tùng ổng (lúc đó là đại úy), theo khẩu lệnh của đại tá tỉnh trưởng, đi nhận lại tượng con khỉ chùa cầu mà một thằng lính Đại Hàn lợi dụng nước lụt rinh về đồn đóng tại Trà Quế.
Chùa Cầu nằm ngay ranh giới hai xã Cẩm Phô và Minh Hương, thuộc địa phận Minh Hương xã. Cầu dài 18 mét có 7 gian trong đó 5 gian kết cấu gỗ theo kiểu trính chồng trụ đội, 2 gian đầu hồi uốn cong theo hình võ cua, mái lợp ngói âm dương, trụ móng cầu bằng đá đẽo. Chùa và cầu gắn nhau qua vách gỗ với bộ cửa chính thượng song hạ bản.
CẦU:
Văn bia lập năm Gia Long, Đinh Sữu (1817) ghi: "Minh Hương Hội An phố giới ư Cẩm Phô hữu khê, hữu kiều cỗ dã. Tương truyền Nhật Bổn quốc nhân sở tác kinh phụng"
(Làng Minh Hương, phố Hội An, tại địa giới Cẩm Phô có khe nước, có cầu cổ. Tương truyền người nước Nhật Bổn xây để qua lại.)
Đại Nam nhất thống chí ghi: "Cầu ở xã Cẩm Phô về phía tây phố Hội An, huyện Diên Phước, nước khe chảy về phía Nam đổ vào sông Cái, cầu bắc ở trên. Tương truyền cầu này do người khách buôn Nhật Bản bắc, dưới cầu xây đá, trên lát ván, gác mái gồm bảy gian lợp ngói "
Chùa Cầu là một kiến trúc liên hợp: CHÙA và CẦU.
Cầu xây trước, do người Nhật kiến tạo, nhưng khởi công và hoàn thành từ thời điểm nào cho đến nay vẫn chưa sáng tỏ.
Cầu xây trước, do người Nhật kiến tạo, nhưng khởi công và hoàn thành từ thời điểm nào cho đến nay vẫn chưa sáng tỏ.
Tên gọi CẦU NHẬT BẢN được ghi trong thư tịch cổ Việt Nam đầu tiên từ năm 1617.
Trên bản đồ "Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ" do Đỗ Bá vẽ có ghi tên Hội An kiều với hình vẽ chiếc cầu có mái.
Nhà nghiên cứu Pháp Albert Sallet cho biết thêm: "Các truyền thuyết còn kể lại rằng một người Nhật Bản tên Thanh đã xây dựng cây cầu này trên những cột bằng đá với bộ sườn siêu cấu trúc và một mái bằng ngói ".Trên bản đồ "Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ" do Đỗ Bá vẽ có ghi tên Hội An kiều với hình vẽ chiếc cầu có mái.
Tác giả Vũ Đức Tân trong bài viết có tựa đề Hội An đăng trên tạp chí Việt Nam đã viết rằng cầu Nhật Bản (tức Nhật Bản Kiều) ra đời vào năm 1593.
Một tác giả nước ngoài đã viết trên báo The Asian Wall Street Journal như sau: "Cầu Nhật Bản với cột vuông, mái cong là công trình của giới kiến trúc Nhật Bản quyết định xây dựng năm 1593 để thông thương buôn bán với người Hoa."
Như vậy, cầu Nhật Bản được xây dựng ở cảng thị Hội An chậm nhất từ năm 1617.
Và dĩ nhiên, nếu tại thời điểm này, một người nào đó dừng chân trên chiếc cầu Nhựt này mà hỏi: "Làng Minh Hương ở đâu?" thì không một ai có thể chỉ giúp.
Đơn giản vì hồi đó chưa có địa danh Minh Hương. Làng Minh Hương được thành lập từ năm 1644 đến năm 1653!!.
Thủy khê dưới chân cầu là khe Ồ Ồ, xuất phát từ BÀU ỐC THƯỢNG chảy vòng vèo trước chùa Long Tuyền qua địa phận chùa Phật Học trước khi đổ vào sông Thu BồnNHẬT BỔN KIỀU là sự khẳng định và phân biệt sản phẩm của người Nhật.
Từ Chùa Cầu trở xuống là khu phố của người HoaNgười Pháp đặt tên cho đường này là: Rue Du Pont Japonais
Nhớ lại vào năm 1633, Mạc Phủ Nhật Bản đã ban bố lệnh đóng cửa không quan hệ giao thương với nước ngoài, Nhật kiều đang sống và buôn bán ở nước ngoài phải hồi hương và chuyến tàu Nhật Bản cuối cùng đã rời bến cảng Hội An vào năm 1637, phố Nhật Bản bắt đầu rơi vào cảnh suy tàn và cầu Nhật Bản được người Việt ở Hội An quản lý.
Sau khi làng Minh Hương ra đời và cầu Nhật Bản nằm trên địa phận làng này, nên chúa Nguyễn đã giao cho người Minh Hương nhiệm vụ quản lý và tu sửa cầu.
Sách "Đại Nam Nhất Thống Chí" viết:
"Năm Kỷ Hợi (1719), hoàng đế Hiến Tông Hiếu Minh tuần du phương nam, khi xa giá đến phố Hội An thì thấy phía tây có cầu, thuyền bè tụ họp, ban cho tên LAI VIỄN KIỀU (cây cầu của những người từ phương xa tới) và cho khắc biển vàng". Nay vẫn còn!
Như vậy, từ thời Chúa Nguyễn Phúc Chu, cầu có thêm một tên mới.
CHÙA
Cho mãi đến 1653, Trung Lương Hầu Khổng Thiên Như, một trong mười vị tiền hiền đầu tiên thành lập làng Minh Hương ở Hội An, đồng thời là quan phụ trách Ty Tàu vụ tại đây của chúa Nguyễn mới cùng một số tiền hiền khác bỏ tiền ra xây dựng ngôi chùa nhỏ nằm sát cầu Nhật Bản ở phía Tây để thờ Bắc Đế Chân Võ Tổ Sư (hay Huyền Thiên Đại Đế) cùng Trừng Hán Cung thờ Quan Công và Minh Hương Phật tự thờ Phật Quan Âm. Sau khi ra đời phức hợp kiến trúc cầu Nhật Bản - chùa Bắc Đế hay Cầu Chùa, danh xưng cầu Nhật Bản dần bị quên lãng và được thay vào đó bằng tên gọi quen thuộc Chùa Cầu. Chùa ra đời sau cầu ít nhất 35 năm. Danh xưng Chùa Cầu đã ra đời ở Hội An sớm nhất là vào năm 1653.
Sau khi quản lý cầu Nhật Bản và dựng thêm ngôi chùa nhỏ bên cạnh, làng Minh Hương đã có công bốn lần trùng tu cây cầu : năm 1763 dưới thời Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát, năm 1817 dưới thời vua Gia Long, năm 1875 dưới thời vua Tự Đức và năm 1917 dưới thời vua Khải Định. Từ lần trùng tu cầu thứ hai trở đi, sự việc đó đều được ghi bằng chữ Hán trên thượng lương và các xà dọc trên mái của cầu mà nay vẫn còn. Trên thượng lương ở đỉnh nóc cầu còn các dòng chữ Hán có nghĩa như sau : " Niên hiệu Gia Long thứ 16 năm Đinh Sửu (1817), tháng Ất Tỵ, ngày Ất Dậu, giờ Kỷ Mão, lý trưởng làng Minh Hương Trương Hoằng Cơ cùng cả làng đã xây dựng lại công trình ".
Cũng chính vào tháng 8 năm Đinh Sửu này (1817), làng Minh Hương đã dựng " Bi ký trùng tu Chùa Cầu " mà đến nay còn gắn trên cầu. Những dòng chữ Hán trên bi ký có đoạn : " Tại phường Minh Hương đô thị Hội An, phân giới với Cẩm Phô có con sông nhỏ, có cầu cổ. Tương truyền do người Nhật Bản làm. Trải từ triều đại trước ban sắc cho tên Lai Viễn Kiều... ".
Nhât Bản Kiều trong kết cấu kiến trúc và trang trí nội thất đã chứa đựng dấu ấn của nền văn hóa Phù Tang ; mái ngói mềm mại với độ dốc thấp, những cột vuông , nền cầu lát ván hình vòng cung ; các hoa văn trang trí hình mặt trời, chiếc quạt xòe... nay không còn nữa ; những Thần Khỉ và Thần Chó thờ ở hai đầu cầu.
Ở cảng thị Hội An ngày xưa cộng đồng người Việt, người Nhật, người Hoa có chung một truyền thuyết về nguyên nhân gây ra động đất. Họ cho rằng ở ngoài đại dương có một loài thuỷ quái mà người Việt gọi là Con Cù, người Nhật gọi là Mamazu, người Hoa gọi là Câu Long, đầu của nó ở Nhật Bản, đuôi của nó ở Ấn Độ và lưng của nó vắt qua khe ở Hội An mà Cầu Nhật Bản bắc qua. Mỗi khi con thuỷ quái đó quẫy mình thì nước Nhật bị động đất và Hội An không được yên ổn để người Nhật, người Hoa, người Việt được bình yên làm ăn buôn bán.
Để khống chế con Mamazu, người Nhật đã thờ các Thần Khỉ và các Thần Chó trên hai đầu cầu để " trù " con thuỷ quái đó. Điểm yểm chính thức là một bia đá cách cầu theo đường chim bay khoảng 1km về hướng tây-bắc.
Cũng chính vào tháng 8 năm Đinh Sửu này (1817), làng Minh Hương đã dựng " Bi ký trùng tu Chùa Cầu " mà đến nay còn gắn trên cầu. Những dòng chữ Hán trên bi ký có đoạn : " Tại phường Minh Hương đô thị Hội An, phân giới với Cẩm Phô có con sông nhỏ, có cầu cổ. Tương truyền do người Nhật Bản làm. Trải từ triều đại trước ban sắc cho tên Lai Viễn Kiều... ".
Nhât Bản Kiều trong kết cấu kiến trúc và trang trí nội thất đã chứa đựng dấu ấn của nền văn hóa Phù Tang ; mái ngói mềm mại với độ dốc thấp, những cột vuông , nền cầu lát ván hình vòng cung ; các hoa văn trang trí hình mặt trời, chiếc quạt xòe... nay không còn nữa ; những Thần Khỉ và Thần Chó thờ ở hai đầu cầu.
Ở cảng thị Hội An ngày xưa cộng đồng người Việt, người Nhật, người Hoa có chung một truyền thuyết về nguyên nhân gây ra động đất. Họ cho rằng ở ngoài đại dương có một loài thuỷ quái mà người Việt gọi là Con Cù, người Nhật gọi là Mamazu, người Hoa gọi là Câu Long, đầu của nó ở Nhật Bản, đuôi của nó ở Ấn Độ và lưng của nó vắt qua khe ở Hội An mà Cầu Nhật Bản bắc qua. Mỗi khi con thuỷ quái đó quẫy mình thì nước Nhật bị động đất và Hội An không được yên ổn để người Nhật, người Hoa, người Việt được bình yên làm ăn buôn bán.
Để khống chế con Mamazu, người Nhật đã thờ các Thần Khỉ và các Thần Chó trên hai đầu cầu để " trù " con thuỷ quái đó. Điểm yểm chính thức là một bia đá cách cầu theo đường chim bay khoảng 1km về hướng tây-bắc.
Bia đá nằm khuất sau cây đa trên đường Phan Châu Trinh cách nhà thờ Tin Lành 300 mét.
BẮC ĐẾ SẮC MỆNH LẬP HỘI AN CỰC LẠC MÔ ÁP YỂM THỦY ĐẠO và các ký hiệu kỳ quặc như bùa
Những học giả củaTrường Đại học Showa (Chiêu Hoà) đã đến nghiên cứu ở Hội An tháng 9-1992, tháng 3-1993 và tháng 9-1993 đã trao đổi rằng những con thú thờ trên cầu không phải là những con thú bất kỳ mà là những vật linh theo tín ngưỡng vật tổ của người Nhật.
Người Minh Hương lập ngôi chùa nhỏ nằm sát cây cầu cổ để thờ Bắc Đế Chân Võ (hay Huyền Thiên Đại Đế) cũng với mục đích khống chế con Câu Long không gây ra động đất.
Người Minh Hương lập ngôi chùa nhỏ nằm sát cây cầu cổ để thờ Bắc Đế Chân Võ (hay Huyền Thiên Đại Đế) cũng với mục đích khống chế con Câu Long không gây ra động đất.
Hai bên tường của cổng ra vào ở phía tây và phía đông cầu Nhật Bản ban đầu có hai câu đối chữ Hán đắp nổi, nhưng qua năm tháng bị mờ dần để sau cùng bị mất hẳn và người Minh Hương đã thay vào đó bằng hoa văn đắp nổi hình quả phật thủ lớn.
Chùa được trùng tu vào các năm 1817, 1865, 1915, 1986.
Văn bia Khải Định năm 1917:Xã ta khắc theo năm Duy Tân, Ất Mão (1915), tháng sáu
Quý tòa chuẩn xuất tiền yêu cầu tu bổ cầu xưa Lai Viễn. Nay thừa theo ghi lại.
Quan lớn chánh công sứ
Quan lớn sở công chính
RESIDENT - LESTERLIN - GALTIER - CONDUCIEURS - PAPIN - LEPRINCE - LAREEP
Thông sự sở công chính: Trần Ngọc Thôi - Trần Thế Diễn
Thực hiện chung các công việc hoàn thành vào tháng sáu năm Đinh Tỵ (1917). Bổn xã nhớ ân khắc ghi nhằm để lại lâu dài.
Khải Định năm thứ hai (1917), tháng bảy, ngày tốt. Minh Hương xã, bổn xã đồng kính khắc.
Tôi là lính "Nghĩa quân lục chiến", 3 tháng quân trường, 9 năm chiến đấu. Không bao giờ được lên lon (vì có lon đâu mà lên). Gọi tôi là Du kích quân cũng gần đúng. Tôi là gạt đờ co (Garde du corps) cho ông thiếu tá Sáng, quận trưởng quận Hiếu Nhơn. Từng tháp tùng ổng (lúc đó là đại úy), theo khẩu lệnh của đại tá tỉnh trưởng, đi nhận lại tượng con khỉ chùa cầu mà một thằng lính Đại Hàn lợi dụng nước lụt rinh về đồn đóng tại Trà Quế.(Bài còn được bổ sung chỉnh sửa nhiều lần)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
























