Thứ Năm, 30 tháng 12, 2010

ĐÌNH THANH HÀ
Cứ theo nội dung gia phả của tộc Nguyễn Viết... và tộc Võ Văn..., tính từ ông sơ cho đến nay, hai họ này đã có mặt tại làng Thanh Hà và lưu truyền gần 20 đời.
Ông Võ Văn Tấn, 54 tuổi, hậu duệ đời thứ 19. 
Ông Nguyễn Viết Thành, 84 tuổi, hậu duệ đời thứ 18.













Nếu tính một đời trên dưới 30 năm thì làng Thanh Hà có thể được lập từ thế kỷ thứ XV.

Có làng tất có đình nhưng thiên tai, địch họa cộng với mức sống thuở xa xưa còn nghèo khó nên việc duy trì một ngôi đình làng tự cổ cho đến bây giờ quả là điều khó thực hiện. Tìm cứ liệu như đáy biển mò kim chỉ biết về sau vào năm 1953, các hương thân kỳ lão trong làng đã xây lại đình Thanh Hà hiện tọa lạc trên đường Hùng Vương, số 128, khối 8 phường Thanh Hà, thành phố Hội An.

Tam quan đình Thanh Hà
Cổng chính: THANH HÀ ĐÌNH * Hai cổng phụ: QUANG TIỀN - KẾ HẬU
 

Mặt trong cổng đình
Cổng chính: VẠN CỔ TRƯỜNG TỒN * Hai cổng phụ: TRI ÂN - THỪA ĐỨC

Nhưng trước khi có ngôi đình này, làng Thanh Hà lại có đến hai ngôi đình làng đồng thời, nguyên do, làng có đến 3 phe (giáp): Phe Đông, Phe Tây và Phe Trung.
Phe Đông lập đình trước gọi là Đình Đông, sau đó di chuyển một lần nữa về vị trí gần nhà ông Trùm Có. 
Phe Tây - Trung, chậm hơn một năm, lập đình Nhị Giáp ở An Bang (khối 4 bây giờ).
Rồi chiến tranh ập đến, đình Đông bị hư hỏng nặng còn đình Nhị Giáp tự phá hủy để tham gia tiêu thổ kháng chiến.

Đến năm 1953, ba phe ngồi lại cùng thống nhất lập lại ngôi đình làng trên hoang tàn đổ nát. Đầu tiên cử người thu hồi gạch gỗ đình Đông, sức dân tháo gỡ gạch ngói ngôi chùa Phật gần nhà bà Dần mà lúc này đã trở nên hoang phế vì không đủ tài lực để tu sửa. Tiếp đến quyên góp dân xóm Hậu Xá (nằm cạnh thôn 4, Bàu Súng, giáp Ngọc Thành, nam sông Thu Bồn và bến xe) mỗi hộ 200 đồng. Dân các xóm khác thì tùy hão tâm hoặc bỏ công góp sức. 
Sở dĩ phải dài dòng như trên vì trong đình hiện không có văn bia nêu lên chứng lý cho biết sự kế thừa của thời gian trước.


Sân đình
Đến ngày mồng hai tháng tư năm Quý Tỵ 1953 đình chính thức khánh thành. Mỗi năm hai lần,
Xuân kỳ: 15 tháng 2 - Thu tế: 20 tháng 8, hiệp kỵ Chí sĩ Nguyễn Duy Hiệu.

Xà cò chánh đường ghi: 
TUẾ THỨ QUÝ TỴ NIÊN, TỨ NGUYỆT, SƠ NHỊ NHẬT, TỴ BÀI THƯỢNG LƯƠNG TỔ ĐÌNH TỌA HƯỚNG QUÝ ĐINH TÝ NGỌ. THANH HÀ XÃ, BỔN XÃ ĐỒNG KIẾN TẠO. 1953.
(Hướng Quý Đinh Tý Ngọ của la bàn Bát Quái là hướng Bắc-Nam)

Bái đường có năm gian thờ nhưng độc nhất chỉ một chữ THẦN trơ trọi đắp nổi nơi gian giữa.
Câu đối hai bên chữ THẦN:
Anh linh thiên cổ tú
Hiển hách vạn thu thiều
Anh linh ngàn năm đẹp
Hiển hách vạn thuở cao
Cặp liễn màu đen:
Thanh lâm phát xuất tam chi thụ
ảnh quang trình ngũ thể vân
Rừng xanh tỏa rậm ba cây lớn
Ráng đỏ rực màu năm sắc mây
Cặp liễn màu vàng:
Thánh đức uy linh bảo hộ hương thôn an thái bình
Thần ân hiển hách khuông phò chư tánh khang ninh thịnh
Đức thánh uy linh, bảo hộ làng thôn no ấm
Ơn thần hiển hách, phò trì dân chúng yên vui
 
Ông Nguyễn Viết Thành giải thích rằng, "khi chạy loạn, cái gì cũng có thể không đem theo nhưng gia phổ và bài vị tiên đường phải ưu tiên gìn giữ trước. Nhưng nếu không thất lạc thì có khả năng phải đốt đi vì nông nỗi của kẻ khác".

 KÍNH SỞ TÔN
(Từ câu: Kính sở tôn hề ái sở thân: Kính trọng ông bà là kính trọng mẹ cha)
 TỒN PHONG CỦ: Giữ gìn phong cách, quy củ

Nơi góc tối tường phía đông, chợt thấy một bức hoành treo ở nơi không trang trọng, hỏi người thủ từ, được biết đó là một trong ba hoành phi có từ khi lập đình:

TỰ CỔ HỮU QUANG (Từ xưa tỏa sáng)
Quý Tỵ niên trung thu - Trung sĩ Nguyễn Ninh phụng cúng
Ông Nguyễn Ninh thực sự tự hào với cấp bậc mà mình hiện có. 
Giờ đây dù ở cõi khác, nhưng tôi tin người Hạ sĩ quan này chưa quên bốn chữ DANH DỰ - TRÁCH NHIỆM ngày nào còn trên vai áo.

Ông Thành còn kể cho nghe về miếu Thái Giám gần nhà ông Hương Di, về Thanh Hà trường mà xưa kia gọi là trường Tổng, về miếu bà ở bến xe. Ông cũng nhắc tên các ông trùm như Trùm Đen, Trùm Đỏ, Trùm Chương, Trùm Đặng, Trùm Liễu, Trùm Bụi, Trùm Lòng, Trùm Rừng... nhưng khi hỏi về Trung sĩ Nguyễn Ninh, mắt ông chợt dõi xa rồi nhỏ nhẹ trả lời: tôi... không dám... nhớ!!

Chủ Nhật, 26 tháng 12, 2010

MỘT THỜI VANG BÓNG

Trước khi có một cái tên thống nhất, Hội An còn có những tên gọi khác như Hồ Bi, Cổ Chai, Cổ Tam, Faifoo, Hai Phố, Hải Phố, Lâm Ấp...mà các tài liệu thư tịch cổ đã ghi lại.

Hầu hết những di tích cổ kính mà du khách được thưởng lãm trên đất Hội An bây giờ, một thời từng được dựng xây trên hoang liêu đổ nát của cuộc nội chiến tương tàn tay ba: Nguyễn - Trịnh - Tây Sơn.

Ngược dòng thời gian thêm một tí nữa, những cái tên Chiêm cảng, Đại Chiêm hải khẩu (Cửa Đại), Chiêm Bất lao (cù lao Chàm), Trà Nhiêu, Trà Quế, Trà Quân quanh đây, hay xa hơn - kinh đô Trà Kiệu, gợi nhớ hơn một lần người dân Hời từng có mặt ở đây mà dấu tích còn để lại là vài cái giếng Chàm ở Cẩm Hà, Cẩm Thanh, Trà Quế, miếu thần Chàm ở Thanh Hà, các bài vị ở đình ông voi, đình Sơn Phong thờ nữ thần Poh Nagar (chúa Ngọc) hay lời khấn vái khi cúng đất đai của dân làng cựu Sơn Phong còn truyền lại đến bây giờ: Tầm Vông xứ.

 Giếng Chàm ở Trà Quế
Từ thế kỷ XIV và đặc biệt, thế kỷ XV đã có cư dân người Việt sinh sống ở đây. Căn cứ vào bia cổ, gia phả, xà cò đình chùa, nhà thờ tộc, từ thời Lê Hồng Đức (1470-1471) đã có làng Võng Nhi (thuộc Cẩm Thanh bây giờ) và trước năm 1553 đã có xã hiệu Cẩm Phô, Hoài Phố trong lòng nội thị Hội An.

Năm 1602, Chúa Nguyễn Hoàng muốn xây dựng nghiệp lớn truyền lập dinh trấn Thanh Chiêm, giao cho con là Nguyễn Phúc Nguyên mở đặc khu Hội An giao thương với các nước. Cùng lúc, ở Đông Á và Đông Nam Á, đại thương nhân Nhật được cấp phép ra nước ngoài buôn bán (trước 1636), nhà Minh bỏ lệnh cấm buôn bán với miền Đông Nam Á và sau đó việc Minh thua Mãn (1644) đã gây ra trào lưu di tản của người Hoa đến Đàng Trong. Phía Tây, các nước đang phát triển cách mạng tư sản, đi tìm thị trường và nguồn hàng ở phương Đông cho đến tận Viễn Đông đã dẫn đến sự hưng thịnh cho đô thị - thương cảng Hội An.
Dưới đây là bài của Nguyễn Phước Tương viết năm 1998.
Vào cuối thế kỷ 16, dư­ới thời các Chúa Nguyễn, Hội An đã trở thành một đô thị thương cảng sầm uất. Thư­ơng thuyền các nước Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Tây Ban Nha... từ Tây âu, Nhật Bản, Phi Luật Tân từ Viễn Đông; Trung Hoa, Nam Dương, Thái Lan, Mã Lai từ Đông Nam Á hàng năm đến mua bán tấp nập thông qua hội chợ quốc tế tổ chức kéo dài trong nhiều tháng.
Ngoài chủ tr­ương mở rộng cửa đón th­ương khách n­ước ngoài đến buôn bán, Chúa Tiên Nguyễn Hoàng còn cho phép hai giới thư­ơng nhân n­ước ngoài là người Nhật và người Hoa tìm địa điểm thích hợp để dựng phố buôn bán lâu dài và cũng từ đó ra đời Phố Nhật Phố Khách vào cuối thế kỷ 16 đầu thế kỷ 17.
Trong thực tế lịch sử, Phố Nhật đã ra đời sớm hơn. Có lẽ vào khoảng 1598, một số th­ương gia giàu có Nhật Bản đã đến buôn bán ở Hội An và xin phép Chúa Nguyễn lập phố, dựng chùa. Lúc bấy giờ phố Nhật trên cảng thị Hội An được gọi là Nhật Bản Nhai, nằm phía đông về hư­ớng mặt trời mọc, trên vùng đất thuộc phư­ờng Minh An của thị xã Hội An hiện nay. Ng­ười Nhật cũng là người nước ngoài đầu tiên đến sinh sống trên đất Hội An. Tuy nhiên trước khi họ lập phố ở đây cũng đã có một số thương nhân người Hoa đã đến Hội An buôn bán như trường hợp của nhà buôn Trần Tấn Tùng vào năm 1577. Và cũng có một số thư­ơng nhân người Nhật cũng đã đến buôn bán sớm hơn ở Hội An như Bạch Tồn Hiển Quý vào năm 1585 và sau đó là Suetsuga và Funamoto.
Trên khu phố do mình xây dựng, cộng đồng ngư­ời Nhật đã lần l­ượt dựng nên các công trình kiến trúc lớn như­ Nhật Bản Dinh, Tùng Bản Dinh Tùng Bản Tự khang trang, lộng.
Tùng Bản Tự hay Chùa Tùng Bản do th­ương gia ng­ười Nhật là Shichirobei đầu tư­ xây dựng trư­ớc năm 1640. Sở dĩ  có tên gọi như­ vậy bởi vì Tùng Bản là hiệu của thương gia đó. Theo sơ đồ nằm ở bờ bắc Sài Giang, tức sông Hội An hiện nay, và về phía đông của Tùng Bản Dinh hay Dinh Tùng Bản. Ng­ười ta còn phát hiện trên văn bia “Phổ Đà Sơn Linh" dựng vào năm 1640 tại động Hoa Nghiêm của Ngũ Hành Sơn ở Đà Nẵng tên Nhật Bản Dinh đ­ược nhắc đến chín lần và tên Tùng Bản Dinh đư­ợc nhắc đến một lần.
Nhà nghiên cứu Pháp Noel Peri, trong tác phẩm “Tiểu luận về mối quan hệ giữa Nhật Bản và Đông D­ương ở  thế kỷ 16  và 17” đã viết rằng Phố Nhật vào thế kỷ 17 dài chừng ba trăm hai m­ươi mét, gồm hai dãy nhà nằm gần một cái chợ và bán đủ các mặt hàng. Các dãy nhà đó chạy theo trục một con đường nằm một bên hải cảng có nhiều tàu thuyền cập bến, họp thành đô thị Nhật Bản (1)
Nhà nghiên cứu chuyên sâu về đô thị cổ Hội An ngư­ời Nhật là Ongura Sadao trong tác phẩm “Người  Nhật thời kỳ thuyền Châu ấn” đã viết như­ sau: Phố Nhật kéo dài tới ba ô đường  Ở cả hai bên đ­ường , ngay cạnh bờ sông. So với phố ngư­ời Đ­ường (tức phốl khách) thì phố Nhật gồm cả những ngôi nhà hai tầng, có cấu trúc cầu kỳ hơn, các ngôi  nhà làm sát nhau. Trong đó có ngôi nhà ba tầng làm rất cầu kỳ. Có thể ngôi nhà đó là nơi hội họp của người Nhật trước đây. Ở  những ngôi nhà nhìn ra đ­ường th­ường có mái hiên để chốn gnóng. Không có chỗ nào là không giống dáng dấp của những căn nhà của dòng họ Chaya ở Owari "(2)
Dòng họ Chaya (hay Trà Ốc) là một trong những dòng họ đại thư­ơng gia Nhật Bản đến buôn bán khá sớm ở cảng thị Hội.An. Th­ương gia của dòng họ đó là Chaya  Shirojiro đến Hội An vào những năm 1615-1624 và là ng­ười đã ra lập ra bản đồ hàng hải Giao Chỉ (tên gọi Đại Việt của ngư­ời Nhật) vào đầu thế kỷ 17 gọi là “Giao Châu Dịch Đô Hải Đồ”, trong đó kèm theo một bức tranh màu vẽ về quanh cảnh Phố Nhật ở cảng thị Hội An, đư­ợc gọi là “Giao Chỉ Mậu Dịch Đô Hải Đồ”, trong đó kèm theo một bức tranh màu vẽ về quang cảnh Phố Nhật ở cảng thị Hội An, được gọi là “Tranh Chaya” mà hiện nay bức tranh này còn lưu trữ tại Chùa Jomyo Thành phố Nagasaki ở Nhật Bản.

Vào thời cực thịnh, Phố Nhật ở cảng thị Hội An đã  có mặt trên một ngàn thương nhân Nhật Bản sinh sống và lập ra nhiều cửa hiệu buôn lớn. Vào thời đó có mười dòng họ thương giàu có đến buôn bán với cảng thị Hội An như ­Suminokura, Kiya, Sueyoshi, Funamoto, Suetsugu, Araki, Hirano, Hashito... trong đó dòng họ Chaya đã m­ười một lần chở hàng đến buôn bán với cảng thị Hội  An, đặc biệt là vào năm 1623 Chaya Shiroiiro đã đưa ba trăm tấn hàng cùng ba trăm thủy thủ làm cho Chúa Nguyễn nức lòng(3) . Nhiều thương gia Nhật Bản đã kết hôn với phụ nữ Việt nam như­ ông Heizaburo lấy bà Nguyễn Thị Chức, ông Shurikan lấy bà Đỗ Thị Mặn, ông Achiko lấy bà Cụ Thị Chủng, ông Kadoya lấy bà Nguyễn Thị  Nụ, ông Heizaemon lấy bà Nguyễn Thị Nở....
Quy mô Phố Nhật lúc này dài ba, bốn dặm với chừng một trăm nóc nhà, vì lẽ đó mà những th­ương nhân ph­ương Tây đến cảng thị Hội An buôn bán vào thời kỳ đó đã gọi Phố Nhật là : “Thương cảng người Nhật”.
Các cộng đồng thương nhân nư­ớc ngoài, theo luật pháp của Chúa Nguyễn, cử ra ng­ười đại diện của mình để quản lý họ và quan hệ với chính quyền địa phư­ơng, gọi là Tổng tr­ưởng ban. Do uy tín của cộng đồng th­ương nhân của ng­ười Nhật và tình cảm của người Việt đối với họ, ngư­ời Nhật đã giữ chức vụ này trong nhiều nhiệm kỳ nh­ư các ông Domingo từ 1633, ông Hayashi Kiemon từ 1637 v.v...
Căn cứ t­ư liệu lịch sử thì Phố khách ra đời chậm hơn khoảng chừng 10-15 năm. Phố khách còn đư­ợc gọi là Đại Đường Nha hay Lương Phố Hội nằm về phía mặt trời lặn. Nghĩa là phía Tây cảng thị Hội An, trên vùng đất Cẩm Phô, Cẩm Hà ngày nay, cách phố Nhật về phía Đông bởi con khe nhỏ đổ ra Sài Giang mà trên đó ngư­ời Nhật đã xây dựng Cầu Nhật Bản.
Phố Khách ra đời vào khoảng 1608 đến 1616 bởi vì vào năm 1618 giáo sĩ ltalia là Christoforo Bori đến cảng thị Hội An ông đã nhìn thấy cả Phố Nhật lẫn Phố Khách. Trong cuốn: “Ký sự của phái đoàn mới của các linh mục giáo đoàn chúa Giê Du ở vương quốc Đàng trong” đã viết: “Thành phố Hội An khá lớn, chúng ta có thể nói là hai thành phó, một của người Trung Hoa, một của người Nhật Bản, hai thành phố tách riêng, người Trung Hoa sống theo luật lệ riêng của người Trung Hoa, người Nhật Bản sống theo luật lệ riêng của người Nhật Bản".  
Tuy nhiên vào đầu thế kỷ 17, Phố Nhật sầm uất hơn Phố Khách. Ngư­ời Nhật đ­ược Chúa Nguyễn ­uư đãi về chính trị và thuế khóa, họ gần như­ đư­ợc hoàn toàn tự do trong buôn bán, có nhiều đóng góp cho sự phồn thịnh của cảng thị Hội An nên họ đư­ợc Chúa Nguyễn ­uư ái hơn và đư­ợc cộng đồng ng­ười Việt cảm mến hơn so với các ngoại kiều khác. Đó là thời kỳ bang giao chính trị và thư­ơng mại tốt đẹp nhất giữa Chúa Tiên Nguyễn Hoàng cùng Chúa Th­ượng Nguyên Phúc Nguyên với Tư­ớng quân Tok­ugawa leyasu (1603 - 1616) của Mạc Phủ Nhật Bản.
Nh­ưng nguyên nhân nào đã  làm cho Phố Nhật đang trên đà phát triển thịnh vượng vào đầu thế kỷ 17 bỗng dưng bị suy tàn ?
Sau khi lên nắm quyền ở Nhật Bản năm 1603, Tư­ớng quân Tôkư­gawa lêyasu phát huy chủ quyền của n­ước mình bằng cách áp dụng chính sách cấm các tàu buôn ng­ười Hà Lan, Bồ Đào Nha và Anh không đ­ược phép đ­ưa ra khỏi nư­ớc Nhật các khí tài vật t­ư quân nhu cũng nh­ư công dân Nhật Bản đồng thời cấm không đư­ợc truyền bá tôn giáo của họ trên đất Nhật. Mặt khác Tư­ớng quân thực hiện đư­ờng lối mở cửa và thể hiện quan hệ bình đẳng và hòa bình trong giao th­ương với các quốc gia khác trên thế giới, chống nạn hải tặc trên biển bằng cách lập ra chế độ Châu ấn thuyền, nghĩa là các th­ương thuyền Nhật Bản đi ra nư­ớc ngoài phải đư­ợc cấp giấy phép có đóng dấu ấn của Mạc Phủ và T­ướng Quân cũng thông báo cho các nư­ớc Đông Nam châu Á chỉ tiếp nhận các tàu buôn Nhật Bản vào cảng nư­ớc mình khi có giấy phép đó để tránh nạn hải tặc.
Thế nh­ưng sau đó các th­ương thuyền Nhật Bản v­ượt biển đến cảng các nư­ớc phía Nam thư­ờng bị các tàu chiến của Bồ Đào Nha và Hà Lan cư­ớp bóc hay đối xử thô bạo bất bình đẳng, chẳng hạn nh­ư vụ thuyền buôn Nhật Bản do Hamada Yohei làm thuyền trưởng đã bị trư­ởng quan Hà Lan Peter Nuyts tranh chấp thô bạo khi đi vào cảng của Đài Loan.
Trư­ớc tình hình quan hệ quốc tế bị xấu đi, Tư­ớng Quân Tôk­ưgawa lêyasu cho rằng một khi chính sách đối ngoại giao th­ương hòa bình và bình đẳng cũng như­ chế độ Châu ấn thuyền đơn ph­ương bị vi phạm thì uy quyền của mình bị coi th­ường trên tr­ường quốc tế và điều đó có thể lôi cuốn Nhật bản vào những tranh chấp quân sự nước ngoài mà Nhật Bản không hề mong muốn. Tư­ớng quân đã ra lệnh cắt đứt quan hệ giao th­ương với Hà Lan và Bồ Đào Nha.
Đồng thời nhằm loại trừ hiểm họa có thể dẫn tới việc ngư­ời Nhật ở nư­ớc ngoài bị lôi cuốn vào các tranh chấp không có lợi, năm 1633, Mạc Phủ đã ra lệnh cấm công dân nước họ không đ­ược đi ra n­ước ngoài bằng đư­ờng biển với bất kỳ lý do nào và buộc kiều bào Nhật đang sống và làm ăn ở nư­ớc ngoài phải hồi hư­ơng trong phạm vi thời hạn nhất định, nếu họ không chấp hành lệnh này thì họ bị tư­ớng quân nghiêm trị. Hai năm sau, tức năm 1635, chế độ “Châu ấn thuyền” cũng hoàn toàn bị xóa bỏ từ đó không còn một th­ương thuyền nào của Nhật bản rời cảng nư­ớc mình ở ra nư­ớc ngoài, kể cả đến cảng thị Hội An. Và đến năm 1639, nư­ớc Nhật Bản hoàn toàn đóng cửa đối với thế giới bên ngoài .
Ng­ười Nhật vốn là những thần dân trung thành với triều đình n­ước mình nên buộc họ phải từ bỏ Hội An mà ra đi không khỏi luyến tiếc. Như­ đã nói ở trên, nhiều thư­ơng nhân Nhật Bản đã lập gia đình tại Hội An, vì vậy việc hồi hư­ơng của họ đã gây bao cảnh chia ly, tan nát gia đình và để lại nhiều đau th­ương cho những ng­ười vợ Việt. Nỗi đau đó đã đư­ợc ghi lại qua các câu ca dao địa phư­ơng còn l­uư lại đến tận nay, nghe đến não lòng:
Cạnh buồm gió thổi hiu hiu
Nước mắt sa lai láng, dây lưng điều không khô !
Sự tình thảm biết chừng mô
Con cá lui về biển Bắc để chiếc nơm khô một mình.
Tình ơi, đã khổ ta chưa ?
Dế ngâm giọng thảm, ve đưa giọng sầu
Duyên về đâu, nợ về đâu ?
Tai nghe trống điểm trên lầu mấy hơi !
Cuốc than phận cuốc lẻ loi,
Đó lêng đênh phận, đây bôi hồi thân ...!
Người Nhật ở cảng thị Hội An hồi hương đã được triều đình chúa Nguyễn giúp đỡ, đã đư­ợc ngư­ời Việt ở đây chia tay, tiễn đ­ưa trong tình cảm luyến tiếc, nhớ thương, mong một thời kỳ hội ngộ, khác với cảnh cùng một thời gian này những nhà cửa, hiệu buôn của ng­ười Nhật bị đập phá ở Manila, Phnompênh, những ngư­ời Nhật ở Ayuthia bị xua đuổi tàn sát! Sau cuộc hồi hư­ơng hàng loạt của ngư­ời Nhật. Ở cảng thị Hội An chỉ còn lại khoảng dăm gia đình xin định cư­ vĩnh viễn tại đây. Cầu Nhật Bản đã đư­ợc ng­ười Việt tiếp thu và quản lý. Các cơ sở kinh doanh của ng­ười Nhật như­ cửa hiệu, nhà ở nhà kho, bến bãi phần lớn đã đ­ược các th­ương gia ngư­ời Hoa mua lại với giá rẻ và họ từ phía Tây Cầu Nhật Bản tràn sang phía Đông và chiếm lĩnh phần lớn khu Phố Nhật để phát triển hoạt động buôn bán của mình. Đó là nguyên nhân gây ra sự suy tàn của Phố Nhật tại cảng thị Hội An vào nửa đầu thế kỷ 17. Có lẽ bốn chiếc tàu buôn Nhật Bản cuối cùng chở nhiều hàng hóa trị giá 7.500 lạng bạc đã rời bến cảng Hội An vào giữa năm 1637. (5).
Ban đầu, Phố Nhật hầu nh­ư đư­ợc giữ gìn nguyên trạng. Dần dần về sau ng­ười Hoa, ng­ười Minh Hư­ơng (Người Hoa nhập cư), ng­ười Việt đã xây dựng trên vùng đất thuộc Phố Nhật cũ những công trình kiến trúc mới. Và điều đó đã ít nhiều làm thay đổi bộ mặt của Phố Nhật x­ưa. Từ đó về sau, tại cảng thị Hội An, ngư­ời Hoa giữa vai trò quan trọng nhất trong hoạt động kinh doanh, mà tr­ước kia nằm trong tay ng­ười Nhật. Điều này đã làm cho cảng thị Hội An chỉ có một phố duy nhất là Phố Khách.
Thực trạng đó đã đư­ợc người mại biện Anh Thomas Bowyear ghi vào nhật ký của mình khi đến cảng thị Hội An vào tháng 6 năm 1695 rằng: “Hải cảng chỉ có một phố lớn nằm trên bờ sống. Hai bên có hai dãy nhà chừng một trăm nóc, toàn là người Trung Hoa”.
Hoà Thượng Thạch Liêm Thích Đại Sán, người Trung Hoa đã đến cảng thị Hội An năm đó và cũng ra ghi trong “Hải ngoại ký sự”: Hội An là một mã đầu lớn, nơi tập trung khách hàng các nước. Thẳng bờ sông là hai con đường dài ba bốn dặm, gọi là Đại Đường Nhai, hai bên là phố khít rịt. Chủ phố là người Phước KIến vẫn con ăn mặc theo kiểu tiền triều”
Những kiến trúc mới của người Hoa, người Minh Hương và người Việt xây dựng thêm như đã nói ở trên chỉ làm biến dạng đôi nơi của Phố Nhật xưa, nhưng chưa đến nỗi làm xoá nhòa đi hầu như toàn bộ kiến trúc mang phong cách Nhật Bản mà trong đó có những ngôi nhà hai, ba tầng xây dựng một cách cầu kỳ. Chính cuốc nội chiến giữa Đàng Ngoài và Đàng Trong là nguyên nhân gây nên sự tàn phá nặng nề cảng thị Hội An vào thế kỷ 18, trong đó có Phố Nhật.
Như­ lịch sử cho thấy vào năm 1773, quân Tây Sơn đã nổi dậy đánh chiếm thành Quy Nhơn và tiếp sau đó đánh chiếm Quảng Ngãi và Quảng Nam trong đó có cảng thị Hội An vào năm 1774. Cùng lúc đó, trong năm này, quân Trịnh đã đánh chiếm đ­ược Phú Xuân và tiến đánh vào Quảng Nam. Quân Chúa Nguyễn bị thua quân Trịnh ở phía Bắc và quân Tây Sơn ở phía Nam, phải rút quân bằng đư­ờng biển vào Gia Định.
Vào đầu năm 1775, một trận đánh ác liệt đã xảy ra giữa quân Trịnh và quân Tây Sơn do Tướng Lý A Đình chỉ huy tại làng Cẩm Sa cách cảng thị Hội An 10km về phía Đông Bắc và quân Tây Sơn bị thua to, quân Trịnh chiếm đư­ợc cảng thị Hội An và Quảng Nam..
Trong cuốn mô tả lịch sử Đàng Trong của thầy thuốc ngư­ời Đức Jean Koffler, vốn là ngự y của Võ  Vư­ơng Nguyễn Phúc Khoát, viết rằng: "Quân Trịnh đã tàn phá thành phố Hội An, làm ng­ưng trệ mọi hoạt động trong một thành phố có thể nói là một trung tâm lớn của nền ngoại th­ương".  Thực sự quân Trịnh đã gây ra cảnh đổ nát nặng nề cho cảng thị Hội An và chỉ chừa lại các kiến trúc tín ngưỡng như­ Miếu Quan Công, Chùa Phật Quan Âm, Cung Thiên Hậu, Hội Quán D­ương Thư­ơng, Đình Vạn Thọ...
Sau cuộc nội chiến giữa quân Trịnh và quân Tây Sơn ít năm, John Barrow, hội viên của Hội Hoàng Gia Anh đã đến Đà Nẵng và kể lại rằng: Tuy chúng tôi chưa nhìn thấy cảnh đô hội của vùng phụ cận Đà Nẵng cùng các nhà cao cửa rộng, nh­ưng cũng đã biết đất này là bến trọng yếu giao thư­ơng giữa người  Giao Chỉ với người  Hoa, người  Nhật mà nay thấy bày ra tr­ước mắt chúng tôi những làng xóm đổ nát đến phải thất vọng. Xóm làng to nhất chỉ còn lại trăm nóc nhà tranh tre. Ở đây trải qua một  cuộc cách mạng, xem kỹ nay chỉ còn lại dấu vết xiêu đổ của những kiến trúc đẹp đẽ và rộng rãi.  Nơi đây ngày trước là những t­ường thành của các công thự hay các pháo đài còn lưu lại  vết tích. Nhận biết được đều ấy là nhờ các sĩ quan và binh sĩ của nước chúng tôi cho biết. Ở thành phố Hội An  thì cũng một tinh trạng hoang dã nh­ư vậy. Trong thời chiến tranh, Hội An là nơi bị tàn phá thảm hại nhất, song việc mua bán của Hoa kiều vẫn chưa hoàn toàn bị đình trệ”.
Vào năm 1778, Ch. Chapman, đại diện Công ty Đông ấn Anh đã đến Đàng Trong và đã ghi lại: “Chúng tôi đã đến Hội An, nhà cửa gạch ngói san sát cùng con đ­ường lát đá, ngày x­ưa là nơi đô hội, nay chỉ còn thấy một sự đổ nát mà không thể ngăn cản đ­ược sự kinh  ngạc. Nhà cửa nay chỉ còn một ít t­ường bao quanh mà thôi và đàng sau những bức tư­ờng đó ngày trước là lầu quỳnh gác ngọc của các chủ nhân mà nay họ phải ẩn nấp trong các lều trại phên tre lợp cỏ cho đỡ nắng mưa."(10)
Cùng chung với số phận của cảng thị Hội An các kiến trúc tiêu biểu của Phố Nhật xư­a cũng bị tàn phá và phải nhiều năm sau mới dần dần đ­ược phục hồi. Nhà nghiên cứu Tru­ng Hoa Trần Kinh Hòa đã viết sự hồi sinh của cảng thị Hội an nh­ư sau: ”Thương mại ở Hội An được phục hồi, Hoa kiều trở lại Hội An cũng nhiều. Tuy vậy, tình hình buôn bán không bằng mấy năm trước và cũng bớt phần trọng yếu, nhưng Hội An vẫn là hải cảng quan trọng của thế kỷ, Hoa kiều qua lại buôn bán cũng khả quan” (11)
Cộng đồng ngư­ời Việt, ng­ười Minh H­ương và ngư­ời Hoa theo khả năng của mình, cùng nhau xây dựng lại đô thị từ cảnh đổ nát của chiến tranh. Nhiều nhà  cửa, hiệu buôn, hội quán, nhà thờ tộc, công trình tín ng­ưỡng đã đư­ợc họ dựng lên theo phong cách kiến trúc của họ nh­ư Chùa Kim Sơn - Hội Quán Ph­ước Kiến(1792) , Chùa Ông Bổn - Hội Quán Triều Châu (1873), nhà thờ tộc Phạm (1818), Miếu âm Hồn (1821), Đình Ông Voi. Tụy Tiền Đ­ường Minh Hư­ơng (1908)... và điều đó vô tình đã xóa đi mãi mãi dấu tích x­ưa của Phố Nhật một thời vang bóng trên đô thị cổ Hội An...
Tài liệu dẫn:
1. Noel Peri. Essai sur /es reiations du Japọn et d8 lindochme aux 16e et 17e siêcles BEFEO. 1923. . .
2. Ongura Sadas. Ng­ời Nhặt Bản thời kỳ Thuyền Châu ấn: Hội thảo quốc tế về đô thị cổ Hội An. 1990.
3. Trần Ánh. Người Nhật với Hội An.1994, No. 21; tí. 24.
4. Critoforo Sọm. Relation de la nouvelle mission des Pêres de la Compagnie da
Jésus au Rolallme de la Cochinchm8. 1631. '
5. J. M. Bush. La Compagllie des Indes néer/andaises et de 1 Indochine. BEFO. Tom 37. 1936.
6. Léopold Cadịère. Les Europêenb qm ont vu le vi8ux Hue. Thomas Bowyâar a 695- 1 696). BA VH. í920. ~
7. D­ưới triều Thanh mà ăn mặc theo kiểu nhà Minh trước đó.
8. Jean Koffler. Description historique de la Cochinchine. Revue Indochinoise. 1911,p. 15-16. "
9. Trần Kinh Hoa : Phố người Đường và việc buôn bân Ở Hội An thế kỷ 17-18. 1957. Tân Á Học Báo.
10 H. Berland Relation d'un Voyage en Cochinchine en 1778 par M. Chapman in BSEIC,1948.

Thứ Tư, 22 tháng 12, 2010


Vinh danh Thiên Chúa trên trời
Merry Christmas!
Happy new year
 Bình an cho người dưới thế

http://i45.photobucket.com/albums/f61/krykrag/christmas/christmasgif8.gif

Thứ Ba, 21 tháng 12, 2010

ĐÌNH TIỀN HIỀN HỘI AN
Đình tọa lạc trên đường Lê Lợi cách ngã tư Lê Lợi - Trần Hưng Đạo khoảng 150 mét. Đình nhìn về hướng tây.

Hội An Tiên Từ

Đình được lập vào năm Minh Mạng thứ 14, Quý Tỵ 1833. Xà cò ghi:

Minh Mạng thập tứ niên tuế thứ, Quý Tỵ mạnh hạ nguyệt kiết nhật,
Bổn xã quan viên hương lão viên chức đẵng đồng sáng tạo.

Chính đường có ba gian, thờ năm bài vị. Bài vị giữa ghi:

LỊCH ĐỢI TIÊN HIỀN
TIÊN         HẬU
HIỀN        HIỀN
KHAI       KHAI 
KHẨN     KHẨN
CHƯ
LINH
VỊ
Người xưa thường viết: TIÊN HIỀN KHAI KHẨN - HẬU HIỀN KHAI CƠ. Người trước mở đất, người sau vun nền. Đây là bài vị mới do Bảo tồn di tích mới thiết gần đây.

Nghe kể lại, nguyên thủy đất đình rất rộng, thời Pháp mở đường, đình mất sân trước. Giai đoạn cận kề trước và sau năm 1975, nhiều hộ dân lấn chiếm đất hai bên đình, hai ngôi nhà trù đã bị đập phá một ngôi, đình thiếu người hương khói.

Đình được trùng tu từ tháng 6 đến tháng 12 năm 1992.
Hiện giờ, so với nhiều ngôi đình còn lại trên đất (thành phố) Hội An, đình tiền hiền (xã) Hội An, một xã từng là nền móng cho sự phát triển của (thành phố) Hội An bây giờ, có quy mô kiến trúc khiêm tốn nhất, đất đình cũng hẹp nhất và (hình như) cũng bị con cháu lãng quên nhất!!

Trong từ đường có hai bức phi:

PHÁT NGOẠI QUANG HOA

SÁNG NGHIỆP THÙY LƯU

Bước ra sân nhìn lên phía trong tam quan:
Hoành phi chính giữa ghi: MỸ CHƯƠNG THẠNH TRUYỀN
Hai bên ghi: ĐÔNG THÀNH - TÂY TỰU
Chỉ là ước mơ của chư vị tiền bối, biết bao giờ mới hiện thực?!

Những năm Hội An còn nghèo, ngày ngày qua đây thấy cửa đình lặng ngắt khóa chặt tựa cái miếu hoang. Đêm đến, trăng soi càng thấy não nùng, cứ mơ hồ cảm nhận, hình như Nguyễn Đức Sơn viết hai câu thơ cho chính nơi này:
Từ đường đâu thấy thờ ai
Lắc tay nguyệt chếch đang cài tam quan.


Thứ Sáu, 17 tháng 12, 2010


CHÙA QUẢNG TRIỆU

Người Hội An thường không phân biệt đình, miếu và chùa. Cứ thấy ngôi miếu nào "hoành tráng" thì gọi là chùa. Miếu Quảng Triệu cách chùa Cầu khoảng 50 mét về hướng đông, nhìn ra sông Thu Bồn và làng An Hội.

Quảng Triệu là tên ghép của QUẢNG CHÂU và TRIỆU KHÁNH, hai phủ của tỉnh Quảng Đông, Trung Hoa. Người của hai phủ này lưu lại Hội An sau người Phúc Kiến và Hải Nam, dầu rằng Hải Nam thời đó cũng là một phủ thuộc tỉnh Quảng Đông và người Hải Nam ban sơ không tính chuyện lưu lại nơi xứ người như một câu liễn nơi tam quan Quỳnh Phủ Hội Quán trước khi đập phá để trùng tu lại như bây giờ:
月 臺 靈 緒 在 万 無 一 日不 思 鄕 
Nguyệt đài linh tự tại, vạn vô nhất nhựt bất tư hương.
 Tiền môn QUẢNG TRIỆU HỘI QUÁN.
Ngôi miếu này được các nội dung quảng bá du lịch Hội An hiện thời ghi năm khởi tạo là 1885, nhưng trên nóc miếu vẫn còn dấu tích để lại:


Nóc miếu khắc ghi: QUAN TỰ THẬP NIÊN (1884)
Đỉnh đồng ghi: QUAN TỰ CỬU NIÊN (1883)

Lư hương ghi: QUAN TỰ THẬP NHẤT NIÊN (1885)
Và con cháu trong bang hứa sẽ tìm bằng chứng: Lần đầu khởi dựng miếu là năm 1786.
Riêng lần trùng tu năm 1992, tiền môn được xây mới hoàn toàn.

 Quảng Triệu Hội Quán - Ảnh photo Vĩnh Tân chụp năm 1930
Chùa Quảng Triệu hiện nay thờ:
ĐỨC QUAN THÁNH vía ngày 13 tháng giêng âm lịch
BÀ THIÊN HẬU THÁNH MẪU vía ngày 23 tháng 3 âm lịch
NGÀI THẦN TÀI 

Tuy nhiên, chùa Quảng Triệu khởi thủy lại thờ Đức Khổng Phu Tử nhưng chủ yếu làm hội quán là chính. 
Chùa Quảng Triệu là nơi mở trường dạy tiếng Hoa đầu tiên tại Hội An. Trường lấy tên là HƯNG HOA dạy tiếng Hương âm tức tiếng Quảng Đông (có mời thầy từ bên Tàu qua dạy).

Ngày 04 tháng 5 năm 1919 xảy ra cuộc Ngũ Tứ vận động lan rộng khắp 22 tỉnh và 150 thành phố ở Trung Quốc, là một phong trào đấu tranh rộng lớn của sinh viên, học sinh, công nhân, thị dân, trí thức Trung Quốc (dẫn đến thành công: đoàn đại biểu Trung Quốc tại Pháp cự tuyệt ký vào Hiệp ước Versailles), cộng với sự ảnh hưởng của giáo sư Hồ Thích nên trường bỏ dạy Văn ngôn (chữ xưa), chuyển qua dạy chữ quốc ngữ gọi là tiếng phổ thông tức Quan thoại. Đồng thời chùa Quảng Triệu theo chủ trương của một thầy giáo họ La từ Trung Hoa qua dạy trong chùa cũng thôi không thờ đức Khổng, từ đó chùa không thờ vị nào cả một thời gian khá lâu. 
Theo lời ông Ngô Tỵ kể: "Từ khi ông Năm Đệ tức Phan Quang Đệ thôi không giữ từ nữa vì già yếu, tôi kế tục lo quét dọn hội quán, lúc đó trong chùa chỉ treo duy nhất tấm ảnh ông Tôn Dật Tiên, thời gian sau xin thỉnh tượng đức Quan Thánh thờ ở chùa Long Tuyền về phụng cúng. Ổn định đâu đó bang mới cử người về Trung Quốc thỉnh tất cả các tượng mà hiện nay đang tồn tại trong chùa".
 

Thứ Năm, 16 tháng 12, 2010



VÀI HÌNH ẢNH KHÁC 11
TRONG NHÀ THỜ CÔNG GIÁO HỘI AN




BẠN ĐIÊN NGOAN ĐẠO

Bạn học cùng lớp Pháp văn Trần Quý Cáp, bị điên từ năm 1977 nhưng vẫn xin thân nhân dẫn đi xem lễ mỗi sáng Chúa nhật.

Nguyễn Minh Chân còn nhớ loáng thoáng: "Ông có phải là Chế Nam không?"

Thứ Ba, 14 tháng 12, 2010

MIẾU VĂN THÁNH MINH HƯƠNG
Khi tiền hiền Minh Hương dời sang vị trí mới, thì trên nền cũ của Tụy Tiên Đường một thời gian sau, miếu Văn Thánh Minh Hương được khởi dựng.
Miếu được định vị theo địa chỉ hiện tại: Số 20 đường Phan Chu Trinh, khối An Thái, phường Minh An, thành phố Hội An.

Miếu Văn Thánh Minh Hương (người Hội An thường gọi là đình Viên Chỉ) có ngôi nhà Đông đã bị phá hủy từ lúc nào không biết.
Khi ngôi miếu vào giai đoạn hoàn thành, dân làng Minh Hương đã thỉnh mời danh sĩ triều Nguyễn là ngài Đặng Huy Trứ (1825-1874) tự Hoàng Trung, quê làng Thanh Lương, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong, trấn Thuận Hóa (Thừa Thiên - Huế) viết văn bia lưu niệm.
Ông Đặng Huy Trứ là người giàu lòng yêu nước và có tinh thần cải cách. Ông đỗ Giải Nguyên năm 1847, dạy học, viết sách, làm quan từng kinh qua chức vụ: Tri huyện, Tri phủ, bố Chánh, Ngự Sử, Biện lý bộ Hộ, Khâm phái quân sự. Ông hai lần công cán đến Trung Hoa để tìm hiểu kỹ thuật. Ông từng lập Ty Bình Chuẩn ở Hà Nội (1866) lo việc kinh doanh và lưu tâm đến việc đóng tàu đúc súng cho triều đình. Năm 1869, ông mở hiệu ảnh đầu tiên rồi hiệu sách, nhà in tại Hà Nội. Ông cùng Hoàng Kế Viêm lo việc chống Pháp những năm 1873-1874 và mất tại Đồn Vàng, Hà Tây khi đang trong quân ngũ. Ông để lại tác phẩm "Đặng Hoàng Trung thi sao" (Trích Bách Khoa Toàn Thư Việt Nam).
Giữa tiền đường, bức hoành phi đã hoen màu mực ghi:
宮 成 大
ĐẠI THÀNH CUNG
Hoàng triều Tự Đức, tuế thứ Mậu Thìn
Minh Hương xã, Đoan Ngọ nhật phụng cúng

Dưới đây là phần dịch nghĩa bi ký của Thượng Tọa Thích Hạnh Niệm.
Mùa thu năm Mậu Thìn (1868) ta ngụ ở đất Việt, được người từ Minh Hương, Quảng Nam đem tin về việc xây dựng đền thờ Văn Thánh đã hoàn thành và xin lời của ta. Ta nói đó là một nghĩa cử! đã lập bia ghi lại chưa? Người đó nói chưa. Phàm việc phụng thờ đại thánh là việc lớn, phải viết văn bia để truyền lại cho đời vậy.
Minh Hương xưa nay chưa có đền thờ Văn Thánh nhưng người khoa bảng trước sau xuất hiện, thật là lớn thay! Đạo của Thánh nhân, không phải chờ đợi có đôi ba thước tường, vài hàng cột phụng thờ rồi sau mới ban phước cho. Nay chư vị thân hào đã vì nghĩa mà xây dựng Thánh Từ  để báo đáp Thánh Ân, ta lại tiếc gì lời. Tuy nhiên, điều đáng lo là sau khi các bậc tiền bối trong làng từ ông Trương đến ông Thi, ông Lý, Thái, Hồng mất rồi, việc hành chính trong làng không có gì khởi sắc. Gần đây, số dân đinh giảm, tiền thuế thì tăng, lợi tuất thu từ chợ mất, đường buôn bán thì ủng tắt, năm Giáp Tý bị đói khát, năm Ất Sữu bị hỏa tai, làng đã thiếu hụt tài chính từ lâu rồi. Những đền thờ Thần, những chùa thờ Phật người trước đã xây dựng, được đồng hương cúng phụng trải qua nhiều năm bị hư hoại vẫn chưa rãnh để sửa chữa, huống nữa là Thánh từ mới xây dựng cũng chỉ xuất từ tài sản trên mười ngón tay của đồng hương! Thế rồi việc cát, nước không đúng độ, không phù hợp và từ sáng đến tối cứ mãi thay đổi, công việc vật liệu không đúng kích thước, rồi thay rui, đổi ngói cùng với lâu ngày sinh biếng nhác trễ lười, tâm lực không liên tục để rồi hương khói tiêu điều, tường nhà hư sụp. Đó là điều ta lo vậy. Hãy từ từ xem xét giải quyết có thể thành tựu vậy.

 Văn bia năm 1871 còn lưu tại nhà Tây
Mùa hạ năm rồi, ta ở tại làng Long Biên, Thưởng thọ Chánh Cữu Phẩm Tú tài Trương Hoài Bang lại đến thỉnh. Ta nói với ông, ta chờ đợi chính vì lý do đó. Mùa hạ này, ta ở trong quân tại Bắc, có người từ phương Nam đến, ta hỏi thì được biết không phải lo ba vấn đề trên. Ta nói: "Đến thờ xây dựng đến nay đã được ba năm rồi vậy".
Đạo trời cứ ba năm có một tiểu biến. Bởi vì để đối phó với sự thay đổi ba năm mà nay đã làm được việc có thể chịu đựng cả trăm năm, vì vậy phải có văn bia. Do vậy cho nên ta gối trên vũ khí mà viết bài ký này.

Đền thờ này xây dựng tại nền cũ đình tiền hiền ấp Hương Định theo Nhâm sơn Bính hướng kiêm Hợi, Tỵ (Bắc-Tây Bắc và Đông-Đông Nam - theo la bàn Bát quái). Ngày 10 tháng 9 mùa thu năm Đinh Mão (1867) đắp nền.
Ngày 25 tháng 11 thượng lương. Ngày 16 tháng 3 năm Mậu Thìn (1868) cáo thành do ông Trương Hoài Ban chủ trương xây dựng.

Năm thứ hai mười bốn Hoàng triều Tự Đức, ngày rằm tháng tư, mùa hạ năm Tân Mùi(1871).

Bang Biện Lượng Bình Ninh Thái quân vụ, đỗ đầu kỳ thi hương khoa Đinh Mùi (1847) Đặng Huy Trứ kính ghi.
Toàn xã Minh Hương đồng phụng lập
Thí sinh Cộng Quán thành kính viết
NHỮNG LẦN TRÙNG TU
Lần thứ nhất: Tháng 2 năm Tân Hợi (1911)

Xà cò tiền đình ghi:
"Đại Nam, Duy Tân ngũ niên, tuế thứ Tân Hợi, trọng xuân kiết nhật"
Lần thứ hai: Vào tháng ba năm 1938

Mặt trong hai trụ chính cổng tam quan ghi:
"Bảo Đại thập nhị niên tam nguyệt nhật
Minh Hương xã bổn xã đồng trùng tu"
BÀI VỊ:
Chánh điện đặt khóm to thờ thần chủ Khổng Tử:


至 聖 先 師 孔子 神 位
CHÍ THÁNH TIÊN SƯ KHỔNG TỬ THẦN VỊ

Hai gian Đông - Tây thờ Tứ Phối.
Gian đông thờ thần chủ TỬ TƯ và NHAN HỒI:
THUẬT THÁNH TỬ TƯ TỬ THẦN VỊ
KẾ THÁNH NHAN TỬ THẦN VỊ
Gian tây thờ TĂNG TƯ và MẠNH TỬ:
TÔN THÁNH TĂNG TỬ THẦN VỊ
Á THÁNH MẠNH TỬ THẦN VỊ

"Thuở ấy, làng Minh Hương chưa có người khoa bảng: đỗ Đại khoa (Tiến sĩ), đỗ Tiểu khoa (Cử nhân) mà chỉ có 8 Tú tài, 6 Văn giai, 1 Chánh cữu phẩm, 2 Tùng cữu phẩm mà đã đồng tâm hiệp sức huy động nhân tài vật lực xây miếu Văn Thánh là một ngoại lệ đáng trân trọng." (Nhà giáo Phạm Thúc)


Thứ Hai, 13 tháng 12, 2010

HỘI AN VÙNG ĐẤT VĂN NHO
Xin giới thiệu hai văn miếu còn lại:

MIẾU VĂN THÁNH CẨM PHÔ
Miếu Văn Thánh Cẩm Phô được cộng đồng người Việt, cụ thể là cư dân cựu xã Cẩm Phô khởi dựng tự năm nào hiện chưa tìm ra cứ liệu chứng minh. Địa chỉ hiện tại: 32 đường Hùng Vương, khối 3, thành phố Hội An.

 Tam quan, tiền môn miếu Văn Thánh Cẩm Phô.

Căn cứ văn tự ghi lại trên xà cò thì:


Miếu được trùng tu lần thứ nhất vào năm 1871 (nền xanh):
Tự Đức, nhị thập tứ niên, tuế thứ Tân Mùi, trọng thu thượng hoán. Cẩm Phô xã hương quan, hương chức đồng trùng tu.

Trùng tu lần thứ hai vào năm 1913 (nền trắng):
Duy Tân thất niên Quý Sửu, đồng xã cải tạo

Trùng tu lần thứ ba vào năm 1970, theo các bậc cao niên kể: "Thay tam cấp tiền đình bằng hai bậc cấp từ hai bên".

Năm 1998, có một đợt tiểu trùng tu nhưng không thấy ghi lại văn bia để thông tin cho hậu thế.
Ngày xưa vào ngày 16 tháng 2 âm lịch, người dân Cẩm Phô tổ chức tế lễ Văn miếu, học trò gia lễ đi từ sân vào dâng trầm, trà, hoa, quả.
Mời chư huynh nhìn lại ảnh thứ nhì sẽ thấy hoành phi treo chính giữa tiền đình. Đây là hoành phi của nhà văn Tự Lực Văn Đoàn, Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long) hiến cúng cho nguyên quán xã mình vào tháng 10 năm Canh Ngọ 1930 khi đang hiện chức tại Viện Hàn Lâm triều Bảo Đại. Nội dung hoành phi (có thể "double - clickez" vào ảnh để xem chữ rõ hơn):
聖 廟
VĂN THÁNH MIẾU
Bảo Đại Ngũ niên, Canh Thìn mạnh đông.
Hàn lâm viện kiểm thi Nguyễn Tường Long bái tiến.
Chánh điện có ba gian thờ:

Gian giữa thờ bài vị ĐỨC KHỔNG TỬ

Gian đông thờ Tứ Phối:
TĂNG TỬ - NHAN TỬ - TỬ TƯ - MẠNH TỬ

Gian tây thờ:
LÃO THÁNH LÃO TỬ THẦN VỊ
TIÊN HIỀN NHO VĂN ÁI QUỐC LIỆT VỊ
TIÊN TRIẾT VĂN NHÂN CHÍ SĨ LIỆT VỊ
Thể hiện tinh thần Tam Giáo Đồng Nguyên và
Lòng yêu nước của cư dân Cẩm Phô khi công khai ca ngợi, tôn thờ chư vị chí sĩ ái quốc lúc phong trào Duy Tân kháng Pháp đang thời phát triển. Các bài vị này xuất hiện trong lần trùng tu năm 1913 quả là điều BẤT NĂNG KHUẤT trước bạo quyền.

Nhìn lại một lần nữa trước khi rời chánh điện, chỉ thấy những bài vị lẽ loi cô độc. Trên tường rêu phong ẩm mốc bầy nhện giăng mùng ngủ quên, chợt nhớ tựa một truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc:
"Người xưa đâu tá!".